Tử vi số - Giải đoán lá số tử vi, dự báo số mệnh chính xác

Hôm nay: Thứ hai, 21-09-2020

Phạm thái tuế – xung khắc và những điều bản mệnh cần lưu tâm

Xem thêm

Trải qua hàng nghìn năm, âm dương ngũ hành kim mộc thủy hỏa thổ biến hóa vô vàn. Nhờ đó, nhân sinh mới có xung có khắc, cùng muôn sắc thái lộng lẫy như ngày nay.

Tất thảy những kiệt tác mẫu mực viết về vận mệnh đều có sự trình bày rõ ràng. Ví dụ như Tích thiên tủy, Uyên Hải Tử Bình, Tam mệnh thông hội. Tử bình chân thuyên, Lan thai diệu tuyển, Lí trung mệnh thư. Dịch kinh, Hoàng đế nội kinh, Hoàng kim sách, Cùng thông bảo giám. Thần phong thông khảo, Tăng san bặc dịch, Tinh tượng đại thành, Kì môn độn giáp, v.v…

Thái tuế tọa đầu giường kỵ động thổ

Tuổi thế nào thì năm cũng thế. “Tuổi” cũng chính là năm. Thái tuế, cũng gọi là tuế quân, chính là quản lý vận trình một năm, tức lưu niên.

Phạm thái tuế (thái tuế tọa đầu giường kỵ động thổ) là cách gọi thông thường của dân chúng. Chẳng hạn, dân chúng thường nói Tý – Ngọ tương khắc. Người tuổi Ngọ vào năm Tý thì phạm thái tuế, tuổi Rồng cũng tương tự. Đó là bởi vì Tí Ngọ xung, Thìn hình Thìn. Thế nhưng trong lịch sử có rất nhiều đại phú hào, tam công chín khanh. Chính những người này khi gặp xung lại phát đạt giàu sang phú quý.

Trong mệnh lý học, có câu tục ngữ “Không ốm đau thì không lấy làm ngạc nhiên”. Bát tự cùng mệnh lớn kết hợp tạo ra nhiều xung động. Nơi nơi đều sẽ có những nhân vật tạo dựng sự nghiệp lừng lẫy. Ngược lại, những dân thường không ai biết đến. Đó là do bát tự cùng tuế vận vô cùng yên ả, không có nguyên nhân gì thần kì đặc sắc. Sống trong một cái vòng bát quái ôn hòa, cũng có nhiều quy luật giống nhau. Phải có sự di chuyển, vận động mới có tác dụng.

Giải mã

Thế nào là thái tuế tọa đầu giường kỵ động thổ? Động nghĩa là “phát động”. “Phát động” là thuật ngữ của mệnh lý học, chỉ tác dụng của can chi xung khắc phối hợp với nhau. Trong thiên can, can là đầu, chi là gốc. Dự đoán số mệnh chủ yếu là xem can vận động quanh chi. Thổ để chỉ tứ mộ khổ Thìn Tuất Sửu Mùi. Bốn mùa đất đai tươi tốt màu mỡ, hẳn là do Kim Mộc Thủy Hỏa hòa hợp với mộ phần.

Thái tuế tọa đầu giường kỵ động thổ chính là trong năm mạo phạm đến tứ mộ khổ. Tiền tài hỉ xung, phần mộ kị xung. Tiền tài giải khai, tài nguyên dồi dào, giàu có bậc nhất trong thiên hạ. Mộ phần tĩnh lặng, mồ mả giải khai thì ma quỷ xuất hiện. Bệnh tật, nghèo khó, rủi ro, chết yểu, kiện cáo quấn thân.

Vậy muốn xem cụ thể tổng hợp tình hình bát tự có gặp thời vận hay không. Tuế quân nếu gặp được xung động tứ mộ khổ thì sẽ có chuyện lớn gì xảy ra. Vừa mừng vừa lo, lành hay là dữ, đều phải xem bát tự để yên tâm.

 Phương pháp dùng đá quý phong thủy để hóa giải phạm thái tuế

 Tìm hiểu thế nào là Thái Tuế và phạm Thái Tuế, ảnh hưởng vận thế

xung

Mệnh lý học

Ngoài ra, tuổi tác và vận mệnh không có cách nhìn hoàn toàn giống nhau.

Xem vận mệnh một năm, chủ yếu là xem Can có thuận lợi hay trúc trắc. Xem vận lớn, chủ yếu là nhìn vào sự vận động của Chi dễ dàng hay khó khăn. Để dự đoán chính xác đại vận của bát tự bản mệnh. Cần để ý sự vận động của chi ảnh hưởng đến ta như thế nào. Xem năm Tuế quân. Lấy đại vận cùng ngày sinh tháng đẻ của chủ mệnh, xem năm tuổi tác động đến ta ra sao.

Tóm lại, mệnh lý học rất thâm sâu. Âm dương ngũ hành kim mộc thủy hỏa thổ biến hóa vô vàn. Nhân sinh mới có muôn sắc thái lộng lẫy như ngày nay.

Nghiên cứu mệnh lý học chưa bao giờ là công việc thoải mái dễ dàng. Nó bắt nguồn từ tầng lớp quan chức trong xã hội thượng lưu. Những người này có thời gian bỏ công phu nghiên cứu những thứ này. Khương Tử Nha, Quỷ Cốc Tử (Từ Yển Vương), Khổng Tử, Chư Cát Lượng. Lí Hư Trung, Từ Mậu Công, Lưu Bá Ôn, Từ Tử Bình, Vạn Dân Anh v.v… Những người này chính là tiền bối của những tác giả kinh điển viết về mệnh lý học. Họ hoặc là những bậc đế vương dựng nước, hoặc là tam công cửu khanh, Kém cỏi nhất cũng là quan huyện.

Mệnh lý học còn nghiên cứu ứng dụng, một trong những nền văn minh tinh hóa bậc nhất năm nghìn năm trước. Trong mệnh lý học tập hợp thiên văn học, thống kê mô phỏng cùng nhiều bộ môn khoa học tổng hợp khác. Nó là bộ môn nghiên cứu khoa học hạng nhất.

*Phụ lục liên quan 

1. Địa chi lục xung

Tý Ngọ, Sửu Mùi xung. Dần Thân, Mão Dậu xung. Thìn Tuất, Tị Hợi xung.

Địa chi tương xung, tất cả các chi tàng tương xung tương khắc. Thì mệnh chủ sẽ xung thoái, kẻ thất thế mà xung vượng thì sẽ không bị thương.

Kẻ cũng có lực thì có thể đi, hung thần đi tất lợi, cát thần đi thì không có lợi. Với kẻ yếu nhược thì phản tác dụng. Gặp Hung thần thì hại, gặp cát thần tuy không thành họa. Nhưng cũng không có được hạnh phúc. Mệnh gặp xung thì nhiều hung ít cát. Hoặc hai xung gặp nhau mà có hợp thần giải hoặc trong hai xung có hỷ có kỵ. Thì cung mệnh có thể nâng đỡ hỷ hoặc che chắn cho kỵ. Chứ không hoàn toàn xấu.

Tý Ngọ, Tị Hợi xung, là thủy khắc hỏa. Dần Thân, Mão Dậu xung là do kim khắc mộc. Thìn Tuất, Sửu Mùi xung. Cùng loại tương xung, mỗi loại gọi là hữu xung.

Mộ khố Thủy của Thìn khắc mộ khố hỏa của Tuất. Kim khí dư trong Tuất lại khắc mộc khí dư trong Thìn. Vừa hỉ vừa kị, cần xem xét kĩ để chọn vật may mắn phù hợp, tránh bị khắc mà gây tổn thương. Nguyên nhân bên trong lục xung, lấy Thìn Tuất Sửu Mùi cũng vô cùng phức tạp. Tác dụng của Xung sẽ nặng hơn hình và phá. Nếu luận xung tất có hình và phá trong đó.

Cụ thể

Dần Thân Tị Hợi (tứ trường sinh) mỗi loại sinh tại cục mệnh xung khác nhau. Dần Thân Tị Hợi cũng sinh từ ngũ hành, chính là đất lộc của ngũ hành. Xung khắc lẫn nhau, ắt phải làm dao động. Coi như là kẻ thù cùng tồn tại, hai bên đều chịu tổn hại.

Tý ngọ mão dậu (tứ vượng) mỗi loại bại bởi xung địa khác nhau. Nếu không có thiên can dẫn đường hay có địa chi tương hội tương hợp thì tất bị xung. Nếu xung của chúng là hỷ kỵ thì cũng không có gì che chở cả.

Thìn tuất sửu mùi (tứ khố) mỗi khố lại là 1 loại Xung, còn gọi là cặp xung. Thìn tuất sửu mùi (tứ khố) mỗi khố lại là 1 loại Xung, còn gọi là cặp xung. Nếu dùng tại mộ khí hoặc dư khí thì sẽ tạo cục diện xung khắc. Nếu liên quan đến đất đai, thì thổ khắc thổ. Nếu muốn hóa giải thì phải tìm tuổi hợp, không được khắc. Đây chính là điều dân gian gọi là lấy hỉ kị khắc xung.

Xung tại bảy vị trí địa chi. Sáu xung là chỉ sáu tổ hợp âm dương cùng loại tương xung.

Tương xung tức là tương khắc. Trong bát tự luận bàn về số mệnh, hiện tượng sáu xung là quan niệm phi thường quan trọng. Tương xung sản sinh ra hiện tượng có cát có hung. Không thể cho rằng tương xung kết luận là điềm dữ. Đương nhiên, đã tương xung thì nhất định có mức độ gây hại tương xứng. Bất luận là lành hay dữ. Nếu đã khác biệt tức là tương xung về sau sản sinh ra các hiện tượng không giống nhau.

2. Tam hình

xung

– Tử hình Mão, Mão hình Tử (hình vô lễ)
– Sửu hình Tuất, Tuất hình Mùi, Mùi hình Sửa (hình vô ân)
– Dần hình Tị, Tị hình Thân, Thân hình Dần ( hình trì thế)
– Thìn hình Thần, Ngọ hình Ngọ, Dậu hình Dậu, Hợi hình Hợi (tự hình).

Người phạm tam hình: vừa bị tổn hại, kể cả có thịnh vượng cũng không lên quá cao được.

  • Người phạm hình vô lễ: bình thường không nói lời hiếu đạo, với vợ con thì hời hợt. Họ hàng dễ thù hằn nhau. Với mọi người thì hay oán trách, công việc trắc trở, nam nữ đấu đá nhau.
  • Người phạm hình vô ân: không nói chuyện tình nghĩa, bên ngoài thì ra vẻ đạo mạo. Bên trong vô ân phụ nghĩa, tâm tư mưu mô, tâm can chất chứa nhiều oán hận, báo thù. (Nếu bát tự can chi có rõ ràng thì không nên bàn luận). Mệnh nữ cần chú ý việc sinh nở bị băng huyết hoặc tổn hại thai nhi.
  • Người phạm hình trì thế: phần lớn có nội tính rất mãnh liệt (đặc biệt là khi đối diện với chuyện tình cảm). Suốt đời gặp nhiều điều tiếng tranh cãi, tâm tư dễ nảy sinh ngờ vực. Lúc gặp vận xui thường bi quan. Tam hình đều bị, sẽ sinh sự vong ân bội nghĩa.
  • Người phạm tự hình: nói chung phần lớn bên ngoài thản nhiên, tao nhã, lễ phép. Bản chất lại đa nghi, gian trá, tùy cơ mà làm điều ác. Hay gặp tranh cãi, thị phi.
Theo Minh Thuỳ

Tin liên quan

Cùng Chuyên mục

Back to top