Tử vi số - Xem lá số tử vi online trọn đời, dự báo số mệnh chính xác

Hôm nay: Thứ ba, 04-10-2022

Cuộc đời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni: Từ đản sanh đến niết bàn

Cuộc đời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đúc rút được “Điều kỳ diệu nhất là sự giác ngộ này vốn là chân tánh của chúng sanh, nhưng họ lại không an lạc vì thiếu nó”

Xem thêm

cuộc đời đức phật

Phật Thích Ca Mâu Ni là người đã sáng lập ra đạo Phật, được người đời sau tôn xưng là Đức Phật. Theo các tài liệu lưu giữ đến nay xác nhận Ngài là nhân vật có thật trong lịch sử.

Cuộc đời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chính là Thái tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm (sau này là Đức Phật) ra đời tại vườn Lâm-Tỳ-Ny ở thủ đô Ca-Tỳ-La-Vệ  của một vương quốc nhỏ ngay dưới chân rặng núi Hy Mã Lạp Sơn thuộc nước Ấn Độ cổ xưa.

Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ngày 8/4 Âm Lịch năm 624 TCN. Về sau, đại hội Phật Giáo Thế Giới đã đổi và tổ chức ngày Đại Lễ Phật Đản vào ngày trăng tròn của tháng 4 (15-4 Âm Lịch).

Cha của Ngài là vua của bộ tộc Thích Ca (Sakya). Mười hai năm trước khi Ngài ra đời, các tu sĩ Ấn Giáo đã tiên tri rằng Ngài sẽ là một vị vua vĩ đại hoặc sẽ trở thành một nhà hiền triết lừng danh của nhân loại.

Vì không muốn con trai của mình trở thành tu sĩ, cha của Ngài đã luôn giữ Ngài ở bên trong cung điện.

Thái tử Tất Đạt Đa lớn lên trong sự xa hoa của vua chúa. Ông không được phép nhìn thấy thế giới ở bên ngoài, được các vũ nữ giúp vui, và được các tu sĩ Bà La Môn dạy học.

Thái tử Tất Đạt Đa còn học cưỡi ngựa, đánh kiếm, bắn cung, đánh vật, bơi lội… Khi đến tuổi trưởng thành, ông kết hôn với công chúa Gia Du Đà La và cả hai có một con trai.

Chúng ta có thể nói là Ngài là người hạnh phúc, có tất cả mọi thứ trên đời. Nhưng Ngài lại luôn cảm thấy bản thân mình thiếu một cái gì đó, và chính điều đó đã lôi kéo Ngài bước ra khỏi những bức tường của cung điện.

Ở ngoài đó, trên những đường phố của kinh thành Ca Tỳ La Vệ, Ngài đã trông thấy ba cảnh tượng thông thường nhất đối với tất cả mọi người: một người bị bệnh, một người già yếu, và một xác chết đang chuẩn bị được người ta đưa đi hỏa thiêu.

Ngài chưa bao giờ được sửa soạn để chứng kiến những cảnh bi thảm như thế này cho đến khi người đánh xe đã nói với Ngài rằng tất cả mọi người đều sẽ phải chịu sự già yếu, bệnh tật và chết chóc.

Ngài cảm thấy mình không thể nào an tâm sống trong sự xa hoa như trước nữa.

Trên đường trở về cung điện, Ngài đã trông thấy một tu sĩ đang bước đi một cách thong dong trên đường phố. Điều này đã tác động khiến Ngài đã quyết định rời khỏi cung điện để đi tìm giải pháp cho những vấn đề đau khổ của cuộc đời.

Trong đêm khuya, Ngài lặng lẽ từ giã vợ con mà không làm họ tỉnh giấc, rồi phi ngựa đến một khu rừng. Tại nơi đó Ngài đã dùng gươm cắt tóc và thay bộ trang phục vua chúa bằng một chiếc áo tu sĩ đơn sơ. Đó là năm Ngài 29 tuổi, (595 BC).

Với hành vi này thì Thái tử Tất Đạt Đa đã gia nhập vào nhóm người từ bỏ xã hội Ấn Độ để tìm giải thoát.

Thái tử đã tìm đến học hỏi với nhiều vị thầy khác nhau, từ những người theo chủ nghĩa duy vật, cho đến những vị theo chủ nghĩa lý tưởng và phái ngụy biện.

Con đường đến niết bàn của Đức Phật

Từ rừng núi đến thị thành, đâu đâu cũng sôi nổi với những cuộc tranh luận và triết lý. Sau cùng Thái tử đã theo học hai vị Thầy nổi tiếng, vị thứ nhất là Đạo Sư Alara-Kalama, thuộc phái Samkhya (phái Số luận)- người đang có ba trăm đệ tử theo tu học.

Với vị này, Thái tử đã học và đắc ngũ thần thông, đạt đến bậc thiền Vô Sở Hữu Xứ.

Nhưng sau đó dù Đạo Sư Arada Kalama mời Ngài ở lại để dạy đạo như một người đồng đẳng với ông, nhưng Ngài thấy đây không phải là pháp giải thoát tối hậu, nên Ngài đã ra đi.

Ngài đến học với vị thầy thứ hai là Đạo Sư Uddaka Ramaputta (Uất-đầu-lam-phất), người đang có 700 đệ tử theo học. Sau vài ngày tu học, Ngài đã chứng được tầng thiền Phi tưởng.

Nhưng đây không phải là con đường giải thoát sinh tử khổ đau, và Tất Đạt Đa cũng đã quyết định từ giả vị thầy này.

Trong sáu năm, Thái tử Tất Đạt Đa cùng với năm người bạn cùng tu khổ hạnh và thiền định. Mỗi ngày họ chỉ ăn một bát cơm, lấy tâm trí thi đua với thể xác, và chỉ còn da bọc xương.

Sau đó, Ngài quyết định dùng nhiều thực phẩm hơn và không áp dụng pháp tu khổ hạnh nữa. Do đó mà, năm người bạn kia đã từ bỏ Ngài.

Ngài đến một ngôi làng để khất thực, ở đó một cô gái tên là Sujata mời Ngài dùng một bát cháo sữa cùng với mật ong.

Khi sức khỏe phục hồi, Ngài xuống tắm dưới sông Niranjana (Ni Liên Thiền) rồi ngồi thiền dưới cội Bồ Đề, trên một tấm tọa cụ làm bằng cỏ kusha.

Ngài ngồi đó sau khi đã nghe tất cả các vị thầy, học tất cả những kinh sách và thực hành tất cả pháp môn, bây giờ không có gì vướng bận, không có ai để nương tựa, không có nơi nào để đi nữa.

Ngài thiền tọa bất động và cương quyết như một quả núi, cho đến bảy ngày sau, Ngài mở mắt ra, trông thấy sao mai vừa mọc trên bầu trời và Ngài hiểu ra rằng mình đã tìm ra cái chưa bao giờ mất, dù là đối với Ngài hay bất cứ một người nào khác trên thế gian này.

Vì vậy không có gì để chứng đắc, không có gì để tìm kiếm nữa.

Ngài nói: “Điều kỳ diệu nhất là sự giác ngộ này vốn là chân tánh của chúng sanh, nhưng họ lại không an lạc vì thiếu nó”. Vậy Thái Tử Tất Đạt Đa đã giác ngộ vào năm ba mươi lăm tuổi (589 BC) và trở thành một vị Phật, tức đấng giác ngộ, được tôn vinh là Phật Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni), tức là nhà hiền triết thuộc bộ tộc Thích Ca.

Trong bảy tuần lễ sau đó, Đức Phật thọ hưởng pháp lạc tự tại giải thoát của chính mình.

Lúc đầu Ngài không hề có ý định nói về sự chứng ngộ của bản thân nhưng Ngài lại thấy đây là điều khó hiểu đối với phần lớn loài người. Khi Phạm Thiên (Brahma), vị vua của ba ngàn thế giới, thỉnh cầu Ngài đến thuyết pháp, vì cũng có những người: “mắt chỉ bị mờ một chút mà thôi”. Cuối cùng, Đức Thế Tôn đã chấp thuận.

Hai vị thầy của Đức Phật là Udaka và Ramaputra đều đã qua đời trước đó mấy ngày. Cho nên Ngài đi tìm năm người bạn đồng tu khổ hạnh mà trước kia đã rời bỏ mình. Khi thấy Ngài đi tới Vườn Nai ở thành Ba La Nại (Benares), những người bạn kia đã làm lơ với Ngài bởi vì Ngài đã không tiếp tục thực hành khổ hạnh với họ.

Nhưng rồi họ cảm thấy có một cái gì đó đang tỏa sáng trong sự hiện diện của Ngài. Cho nên lúc đó, họ đã đứng lên, sửa soạn chỗ ngồi và lấy nước cho Ngài rửa chân, sau đó ngồi xuống nghe Ngài thuyết pháp. Đó là bài pháp đầu tiên của Đức Phật. Ông đã nói bài pháp Tứ Diệu Đế cho các vị này.

Bài pháp đầu tiên của Phật Thích Ca Mâu Ni

Trong Tứ Diệu Đế của Đức Phật, chân lý thứ nhất là Khổ đế. Nó nói rằng bản chất của cuộc đời này là không thỏa mãn và đau khổ. Ngay cả những lúc hạnh phúc cũng sẽ có những mầm mống của khổ đau nếu chúng ta cứ bám giữ vào chúng. Hay một khi chúng đã đi vào ký ức nhưng vẫn bóp méo hiện tại bởi vì tâm trí của chúng ta đang cố gắng xây dựng lại quá khứ một cách tuyệt vọng.

Giáo lý của Đức Phật được dựa trên sự những quan sát trực tiếp đời sống của ông. Kết hợp với đó là lời phê bình cấp tiến đối với lối suy nghĩ mộng mơ cũng như vô số những lối thoát ly, như chủ nghĩa không tưởng chính trị, chủ nghĩa hưởng lạc, môn tâm lý trị liệu hay thuyết cứu rỗi hữu thần của thần bí học. Đây chính là điểm chính yếu phân biệt rõ ràng giữa Phật giáo với đại đa số những tôn giáo khác trên thế giới.

Khổ là chân lý thứ nhất và cũng là nền móng để hiểu một cách trọn vẹn chứ không phải để trốn tránh hay để giải thích.

Kinh nghiệm về sự khổ, về sự hoạt động của tâm trí, đưa đến chân lý thứ hai là nguyên nhân của Khổ (Tập Đế), thường được mô tả là tham muốn lạc thú, nhưng cũng được giải thích một cách căn bản hơn là bám giữ vào sự sống hoặc sự không hiện hữu, tức chấp có và chấp không.

Việc nghiên cứu tính chất của sự tham muốn này dẫn đến tâm điểm của chân lý thứ hai, đó là ý tưởng tự ngã hay cái ta, với tất cả những điều mong cầu và những điều lo sợ của nó, và chỉ khi nào hiểu đúng về tự ngã này và thấy nó không có tự tính, không có thật một cách vĩnh cửu), thì mới có thể hiểu chân lý thứ ba, sự diệt khổ (Diệt Đế).

Năm tu sĩ sau khi nghe bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật ở Vườn Nai đều trở thành hạt nhân của cộng đồng các tu sĩ Phật giáo, tức là Tăng đoàn (Sangha). Đây là những người đi theo con đường mà Đức Phật đã trình bày trong chân lý thứ tư, con đường đưa đến sự diệt khổ (Đạo Đế). Đó là Bát Chánh Đạo, chân chánh trong tám phương diện: ý nghĩ, lời nói, ý kiến, hành vi, nghề nghiệp, ý thức, nỗ lực và thiền định.

Các tu sĩ Phật giáo, tức Tỳ kheo (Bhikkhu), sống rất đơn giản, chỉ có một bình bát, một cây kim, một cái áo, một cái lọc nước, một con dao cạo đầu. Tất cả đó là dấu hiệu của sự ly gia cắt ái. Những người này đi khắp miền đông bắc Ấn Độ, hành thiền một mình hay cùng với những nhóm nhỏ và khất thực.

Tuy nhiên giáo lý của Đức Phật không chỉ dành cho đoàn thể các tu sĩ, Ngài đã dạy học truyền bá giáo lý cho mọi người “Này các Tỳ kheo, hãy lên đường, đi khắp nơi vì lợi lạc, vì hạnh phúc của số đông, do lòng từ bi đối với đời, vì lợi lạc và hạnh phúc của trời và người”.

Trong bốn mươi lăm năm làm tu sĩ của mình, Đức Phật đã đi qua những thôn làng và những thành phố của Ấn Độ, nói bằng ngôn ngữ phổ thông, dùng những lối nói giản dị mà ai cũng có thể hiểu.

Ngài dạy dân làng thực hành chánh niệm trong khi kéo nước giếng, và khi một bà mẹ đau khổ ôm xác một đứa con đến xin Ngài cứu cho nó sống lại, Ngài đã không làm một phép lạ mà bảo bà ta mang về cho Ngài một nắm hạt cải của một nhà nào đó không có ai chết trước đó.

Sau khi đi tìm, bà ta trở về tay không, nhưng hiểu ra một sự thật rằng cái chết là điều chắc chắn sẽ đến với tất cả mọi người.

Khi được nghe nói đến Đức Phật, từ phú gia đến các bậc vua chúa đều phát tâm cúng dường những khu vườn ngự uyển để dựng xây tịnh xá. Đức Phật tiếp nhận những khu vườn này, nhưng Ngài vẫn tiếp tục sống như mình đã từng sống từ năm hai mươi chín tuổi: một tu sĩ khất thực và ngồi thiền định dưới gốc cây.

Bây giờ chỉ có một điều khác là gần như mỗi ngày sau khi thọ trai vào giữa trưa Ngài thuyết pháp. Không có một bài pháp nào được ghi chép lại trong khi Ngài còn tại thế.

Năm 544 (Trước Tây lịch), Đức Phật nhập Niết Bàn tại thành Câu Thi Na (Kushinagar) ở tuổi tám mươi sau khi ăn một bữa ăn có nấm.

Những người tu tập bên cạnh Đức Phật đều đau buồn. Đức Phật nằm giữa hai cây Sala, đầu hướng về phương bắc, mình nghiêng về bên phải, bàn tay phải để ngửa lót dưới mặt, tay trái để xuôi trên hông trái, chân trái nằm dài trên chân phải, hơi thở nhẹ nhàng đều đặn, bình thản.

Ngài luôn gửi lời nhắc tới các đệ tử của mình rằng mọi vật đều vô thường và khuyên họ hãy nương tựa vào chính mình và giáo pháp.

Ngài hỏi có ai muốn hỏi điều gì lần cuối cùng thì cứ mạnh dạn mà hỏi. Sau đó Ngài đã đưa ra lời di chúc cuối cùng: “Này các đệ tử, hãy nghe Như Lai nói đây: Vạn pháp vô thường, có sinh thì có diệt. Các thầy hãy tinh tấn lên để đạt tới giải thoát”.

Xá Lợi Phật Thích Ca Mâu Ni sau đó được chia đều thành 8 phần cho 8 vương quốc thuộc về nước Ấn Độ cổ đại.

Sau khi Đức Phật nhập diệt, vào mùa mưa đầu tiên thì năm trăm đệ tử Tỳ kheo hội họp tại một hang núi gần thành Vương Xá để ôn tụng lại những lời Ngài đã dạy.

Trong cuộc kiết tập Kinh Điển lần thứ nhất này, Tôn giả A Nan, vốn là thị giả của Đức Phật đã được mời thuyết giảng lại lại tất cả những lời dạy của Phật Thích Ca Mâu Ni mà bản thân mình đã nghe.

Tôn giả Ưu Ba Ly ôn tụng lại các giới điều của tu sĩ, còn Ngài Đại Ca Diếp thì luôn nhắc lại Luận Tạng, gồm những điều nói về tâm lý và siêu hình học của Phật Giáo.

Vài thế kỷ sau đó, ba loại sưu tập này được viết trên lá bối và được gọi là “Tripitaka” tức là Tam Tạng Kinh Điển ( kinh Đức Phật Thích Ca Mâu Ni) đã trở thành những giáo lý cốt lõi cho tất cả những giáo điển nhà Phật ngày nay.

Ngoại hình và chân dung Phật Thích Ca Mâu Ni:

Có nhiều miêu tả về ngoại hình của Tất-đạt-đa trong các kinh điển Phật giáo. Là một vị hoàng tử có đầy đủ 32 tướng tốt, ông đã được tập huấn, rèn luyện sức mạnh, được nuôi dạy rất chu đáo về cả văn lẫn võ.

Từ năm 13 tuổi ông được truyền thụ võ nghệ và có sở trường bắn cung. Từ lúc trước khi ra đi tìm đạo, ông đã là người có cơ thể cường tráng, phi phàm hơn người.

Một người Bà la môn Sonadanda đã thuật lại ngoại hình và chân dung Phật Thích Ca Mâu Ni là “đẹp trai, cùng với một làn da rất đẹp. Ông có vẻ ngoài thần thái và oai nghiêm…”  Ngoài ra ông đẹp đẽ, xinh tươi, dễ nhìn, một hình sắc tốt đẹp nhất, hình thể và nét trang nghiêm của ông như Brahma (Phạm Thiên), ngoại hình của Ông đẹp đẽ (Digha Nikaya, Kinh số 4).

Ngài đẹp đẽ, gây được niềm tin, với ý thức điềm tĩnh và tâm trí thanh tịnh, trầm tĩnh và tự chủ, như một con voi được thuần phục một cách hoàn hảo (Anguttara Nikaya, Kinh số 36).

Có những đệ tử của Ngài đang trong quá trình tu tập và chưa trở thành A la hán, bị mê hoặc bởi vẻ ngoài của Ngài. Nhưng đã được Đức Phật khuyên chấm dứt việc đó, và nhắc nhở rằng không nên nhìn ông bằng hình tướng bên ngoài. Hãy nên nhìn vào giáo pháp mà ông truyền dạy thì mới thấy được một Như Lai chân thật.

Trong kinh Kim cang có bài kệ: “Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai”, tức là nếu dùng sắc thấy Ta, dùng âm thanh cầu Ta, người đó hành đạo tà, không thể thấy Như Lai.

Không có một tác phẩm, văn bản nào miêu tả rõ ngoại hình Tất-đạt-đa Cồ-đàm dưới dạng con người cho đến khoảng thế kỷ thứ I TCN, sau thời gian đó thì mới bắt đầu có những mô tả về hình dáng được cho là của ông trong Kinh Lakkhaṇa Sutta.

Ngoài ra, Yasodhara mô tả sơ lược hình dáng của Tất-đạt-đa Cồ-đàm sau khi ông lần đầu tiên trở lại cung điện của mình trong kinh điển Pali, Narasīha Gāthā. Trong 32 tướng tốt, người ta nói ông có đôi mắt xanh biếc.

Sau này, có nhiều bộ phim về Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Ấn Độ được dựng nên nhằm tri ân Đức Bổn Sư Thích Ca Mô Ni Phật.

Danh hiệu Thích Ca Mâu Ni có nghĩa là gì?

Tên gọi: “Kiều Đạt Ma. Tất Đạt Đa”

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Śākyamuni) có tên gốc (tên thế tục) là Kiều Đạt Ma. Tất Đạt Đa (Gotama Siddhāttha).

Kiều Đạt Ma là họ tộc. Ở Ấn Độ cổ, họ tộc truyền thống là theo họ tộc mẫu hệ. Kiều Đạt Ma cũng là dòng họ thế tục của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Trong tiếng Phạn, Kiều Đạt Ma có nghĩa là hiền lành, tốt đẹp còn Tất Đạt Đa là tên. Nó có nghĩa là sự may mắn, cát tường, hàm nghĩa là “hoàn thành trọn vẹn”, “thành tựu hết thảy”, .

Tên gọi: “Thích Ca Mâu Ni”

Phật Thích Ca Mâu Ni có tên tiếng anh là Gautama Buddha . Vậy danh hiệu Thích Ca Mâu Ni mang ý nghĩa là gì?

Thế nhân tôn ngài là “Thích Ca Mâu Ni”, trong đó “Thích Ca” là tên bộ tộc của ngài. Trong tiếng Phạn, “Thích Ca” mang ý tứ là “văn võ song toàn”. Còn “Mâu Ni” chính là cách gọi tôn kính của người Ấn Độ xưa đối với các bậc Thánh nhân. Nó còn có hàm ý chỉ “người cạo đầu xuất gia đã tu hành thành công”.

Vậy nên “Thích Ca Mâu Ni” trong tiếng Phạn có mang nghĩa “người cạo đầu xuất gia đã tu hành thành công xuất thân từ tộc Thích Ca”.

Sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni đắc đạo, được các Phật tử xưng là Đức Phật, Thế tôn, Phật Đà mang ý chỉ người đã thông qua tu luyện mà giác ngộ.

Thích Ca còn có nghĩa là nhân từ. Đức Phật đã dạy chúng ta bài học về nhân từ, dạy dỗ chúng ta đối đãi người khác phải có lòng yêu thương, phải có tâm từ bi, đại từ đại bi đối đãi hết thảy chúng sanh. Do đó, nếu bạn là một Phật tử, hãy sống và đừng quên những lời dạy của Ngài.

Phân biệt Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật A Di Đà:

Rất nhiều người thương hay nhầm lẫn Phật A Di Đà và Thích Ca Mâu Ni đều là một vị Phật. Nhưng thật chất đây lại là 2 vị Phật tách biệt, Đức Phật Thích Ca là vị Phật có thật trong lịch sử và sáng lập nên Phật giáo còn Đức Phật A Di Đà chỉ xuất hiện trong các sách kinh và câu chuyện của Phật giáo.

Mỗi vị Phật đều tùy cơ duyên mà hội ngộ chúng sanh, thực tế không có vị Phật nào lớn hơn, điều các vị Phật mong muốn là những người con Phật tin tưởng và noi gương học theo Phật, năng làm việc lành tránh dữ, một lòng thành tâm chí kính hướng Phật.

Mối liên quan Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật Tổ Như Lai:

Có nhiều người luôn đặt câu hỏi thắc mắc Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có phải là Phật Tổ không?

Đức Phật Thích Ca sau khi đắc đạo được những Phật tử tung hô là Phật, Phật Đà, Đấng Thế Tôn. Sau này khi Phật giáo được lan truyền qua Trung Quốc vào đời nhà Minh, người ta mới bắt đầu gọi Ngài là Phật Tổ Như Lai ( người sáng lập ra Phật giáo).

Vì vậy, Phật Tổ Như Lai và Phật Thích Ca Mâu Ni là một, cũng có thể niệm các danh xưng khác của Ngài như: Như Lai Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni, Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni, Phật Thích Ca Như Lai…

Trên đây là tất cả về Cuộc đời Đức Phật do Tử Vi Số biên soạn và tổng hợp, hy vọng sẽ có ích cho quý độc giả. Con người có thể cải hóa được những cái xấu ác trong lòng mình, có thể được an vui, thanh thản khi nương tựa cửa Phật. Ngoài ra, lại còn có cơ hội phát triển những đức tính tốt đem lại hạnh phúc cho mình và người.

Tin liên quan

Hải Thư

Hải Thư

Chào các bạn, tôi là Hải Thư chuyên gia trong lĩnh vực xem bói tử vi, tác giả về những bài viết trong trên trang web Tử Vi Số. Mong những bài viết của tôi giúp ích và mang thêm nhiều kiến thức bổ ích cho các bạn.


Cùng Chuyên mục

Back to top