Tử vi số - Xem lá số tử vi online trọn đời, dự báo số mệnh chính xác

Hôm nay: Thứ bảy, 02-07-2022

Cơ sở tính toán lịch Việt Nam: Kiến thức hữu dụng cho mọi người

Cơ sở tính toán lịch Việt Nam sẽ giúp quý độc giả có cái nhìn tổng quát hơn về cách tính ngày, tháng, năm âm lịch cũng như cách tính tháng nhuận trong năm.

Xem thêm

cơ sở tính toán lịch việt nam

Cơ sở tính toán lịch Việt Nam sẽ giúp quý độc giả có cái nhìn tổng quát hơn về cách tính ngày, tháng, năm âm lịch cũng như cách tính tháng nhuận trong năm.

Cơ sở tính toán lịch Việt Nam

Lịch âm Việt Nam được xem là một loại lịch thiên văn. Nó được tính toán dựa trên quỹ đạo chuyển động của mặt trời, mặt trăng và trái đất. Ngày tháng trên lịch âm được tính dựa theo các nguyên tắc sau:

Ngày âm lịch

Độ dài của một ngày âm lịch bằng độ dài ngày dương lịch (đều bao gồm 24 tiếng) nhưng lại được chia thành 12 giờ: Tý (23h-1h), Sửu (1h-3h), Dần (3h-5h), mão (5h-7h), Thìn (7h-9h), Tị (9h-11h), Ngọ (11h-13h), mùi (13h-15h), Thân (15h-17h), Dậu (17h-19h), Tuất (19h-21h), Hợi (21h-23h).

Tuy nhiên, một ngày theo lịch âm bắt đầu sớm và kết thúc sớm hơn ngày Dương 1 tiếng đồng hồ. Cụ thể, ngày âm bắt đầu từ giờ Tý (23h00 hôm trước) đến giờ Hợi (23h00 hôm sau), còn ngày Dương bắt đầu từ 0h00 đến 24h00 của ngày.

Tháng và năm theo lịch âm

Cơ sở tính toán lịch Việt Nam cho hay ngày đầu tiên của tháng âm được tính là ngày chứa điểm Sóc. Một năm bình thường có 12 tháng âm lịch, một năm nhuận sẽ có thêm 1 tháng nhuận tức có 13 tháng âm lịch.

Tiết Đông Chí luôn rơi vào tháng 11 âm lịch ( tháng 12 dương).

Từ xưa, các nhà chiêm tinh chia vòng hoàng đạo thành 12 phần bằng nhau gọi là 12 cung hoàng đạo và quy định rằng mặt trời cứ đi vào nửa cung hoàng đạo thì có một tiết tương ứng.

Lúc mặt trời bắt đầu đi vào đến cung hoàng đạo gọi là Trung khí (trung mang nghĩa là ở giữa). Còn lúc mặt trời đi vào điểm tối giữa cung hoàng đạo gọi là Tiết khí (tiết có nghĩa là ngăn cách).

Trong một năm nhuận, nếu có tháng không có Trung khí thì tháng đó chính là tháng nhuận. Nếu nhiều tháng trong năm nhuận đều không có Trung khí thì tháng đầu tiên sau Đông Chí được tính là tháng nhuận.

Việc tính toán cơ sở lịch Việt Nam dựa trên kinh tuyến 105° Đông.
Sóc là thời điểm hội diện, đó là khi trái đất, mặt trời và mặt trăng nằm trên một đường thẳng và mặt trăng nằm giữa mặt trời và trái đất. (Như thế góc hợp giữa mặt trăng và mặt trời bằng 0 độ).

Gọi là "hội diện" vì mặt trời và mặt trăng ở cùng một hướng đối với trái đất. Chu kỳ của điểm Sóc là khoảng 29,5 ngày. Ngày chứa điểm Sóc được gọi là ngày Sóc, và đó là ngày bắt đầu của một tháng âm lịch.

Bởi vì dựa trên cả mặt trời và mặt trăng nên cách tính lịch Việt Nam không phải là thuần âm lịch mà là âm-dương-lịch.

Theo các nguyên tắc của cơ sở tính toán trên, để tính ngày tháng âm lịch cho một năm bất kỳ thì bạn cần xác định những ngày nào trong năm chứa các thời điểm Sóc (New moon - Trăng mới) và các thời điểm của Trung khí (major solar terâm).

một khi đã tính được ngày Sóc, thì bạn sẽ biết được ngày bắt đầu và kết thúc của một tháng âm lịch:

Ngày chứa điểm sóc là ngày mùng 1 tháng.

Sau khi đã biết ngày bắt đầu/kết thúc các tháng âm lịch, thì có thể xác định tên các tháng và tìm tháng nhuận theo cách sau:

Đông Chí luôn rơi vào tháng 11 của năm âm lịch. Bởi vậy, chúng ta cần tính 2 điểm sóc: điểm Sóc A ngay trước ngày Đông Chí lần thứ nhất và điểm Sóc B ngay trước ngày Đông Chí lần thứ hai.

Nếu khoảng cách giữa hai điểm A và B là dưới 365 ngày thì năm âm lịch có 12 tháng, và những tháng đó có tên là: tháng 1, tháng 2, tháng 11, tháng 12, …, tháng 10.

Ngược lại, nếu khoảng cách giữa hai sóc A và B là trên 365 ngày thì năm âm lịch này là năm nhuận, và cần tìm xem đâu là tháng nhuận.

Để làm việc này, ta xem xét tất cả các tháng giữa hai điểm A và B, tháng đầu tiên không chứa Trung khí sau ngày Đông Chí lần thứ nhất là tháng nhuận. Tháng đó sẽ được mang tên của tháng trước nó kèm theo chữ "nhuận".

Khi tính ngày Sóc và ngày chứa Trung khí thì bạn cần lưu ý xem xét chính xác múi giờ. Đây là lý do tại sao có một vài điểm khác nhau giữa lịch Việt Nam và lịch của Trung Quốc.

Ví dụ, nếu bạn biết thời điểm hội diện là vào lúc yyyy-02-18 16:24:45 GMT (giờ quốc tế) thì ngày Sóc của lịch Việt Nam là 18 tháng 2, bởi vì 16:24:45 GMT là 23:24:45 cùng ngày, giờ Hà nội (GMT+7, kinh tuyến 105° đông).

Tuy nhiên theo giờ Bắc Kinh (GMT+8, kinh tuyến 120° đông) thì Sóc là lúc 00:24:45 ngày yyyy-02-19, do đó tháng âm lịch của Trung Quốc lại bắt đầu ngày yyyy-02-19, chậm hơn lịch Việt Nam 1 ngày.

Quy tắc tính Lịch âm dương của các nước Á Đông

Quy tắc tính Lịch âm dương của các nước Á Đông (trong đó có cả Việt Nam và Trung Quốc) hiện nay đều giống nhau và chỉ khác ở múi giờ tham chiếu, hoàn toàn thống nhất với các quy tắc do đài thiên văn Tử Kim Sơn công bố vào năm 1984.

Tuy nhiên, sự khác nhau và chênh lệch múi giờ có thể dẫn đến sự khác nhau về các điểm sóc của tháng nhuận cũng như ngày tết hay ngày chuyển tiết giữa lịch các nước sau này.

Quy tắc tính lịch âm

Ngày đầu tháng được gọi là ngày Sóc (Ngày không trăng).

Một năm bình thường có 12 tháng, năm nhuận sẽ có tổng cộng 13 tháng.

Ngày Đông Chí luôn rơi vào tháng 11 trong năm.

Trong năm nhuận, tháng không có Trung khí là tháng nhuận, tháng này đánh số trùng với tháng trước đó ( cách gọi tên chỉ thêm chữ nhuận). Nếu trong năm nhuận có hai tháng không có Trung khí thì tháng đầu tiên sau Đông Chí được gọi là tháng nhuận.

Cơ sở tính toán dựa trên kinh tuyến pháp định (ở Việt Nam là 105 độ Đông và ở bên Trung Quốc là 120 độ Đông).

Giải thích về quy tắc của cơ sở tính toán lịch Việt Nam

Qua các thời kỳ lịch sự, lịch vạn niên đều biến động không ngừng cùng những thăng trầm chính trị. Theo quan điểm dựa trên cơ sở tính toán, Lịch âm Dương các nước Á Đông đã trải qua ba cải cách quan trọng:

Vào năm 104 Trước công nguyên (đời nhà Hán - Trung hoa cổ đại) quy tắc tháng nhuận là tháng âm không chứa trung khí bắt đầu được đưa vào áp dụng và điểm Sóc cũng như điểm khí (Trung khí và tiết khí) được tính trung bình.

Năm 619 Sau công nguyên (đời nhà Đường - Trung Hoa cổ đại), các nhà làm lịch âm bắt đầu tính được Sóc thực.

Tới năm 1645 Sau công nguyên (đời Thanh - Trung Hoa phong kiến), các nhà làm lịch bắt đầu tính cả các điểm khí thực.

Giá trị trung bình hay giá trị thực ở đây ám chỉ việc người xưa lúc đầu coi chuyển động quỹ đạo của trái đất hay mặt trăng là chuyển động đều sau đó mới tính đến chuyển động thực tốc độ thay đổi.

cơ sở tính toán lịch việt nam

Tính ngày mùng 1 âm lịch

Để tính ngày mùng 1 âm lịch, ta phải tính đến thời điểm Sóc, tức thời điểm mà Trái đất, mặt trăng và mặt trời theo thứ tự trên nằm thẳng hàng. Thời điểm Sóc rơi vào ngày nào của dương lịch thì ngày đó là mùng 1 đầu tháng âm.

Còn khi thứ tự mặt trăng, Trái đất, mặt trời nằm thẳng hàng theo thứ tự thì đó là thời điểm Trăng tròn. Lưu ý là ngày rằm 15 âm chưa chắc đã đúng là lúc Trăng tròn, nhưng ngày mùng 1 âm hàng tháng thì luôn luôn là ngày Sóc.

Ngày được bắt đầu từ nửa đêm tới nửa đêm tiếp theo (từ 0 giờ đến 24 giờ). Dù điểm Sóc rơi vào bất cứ giờ nào trong ngày thì cả ngày đó (kể từ thời điểm 0 giờ) là ngày Sóc, tức Ngày mùng 1 âm lịch.

Với điểm Trung khí cũng vậy, dù điểm trung khí xảy ra trước thời điểm Sóc nhưng ở cùng trong một ngày thì cũng coi như nằm trong tháng âm tính từ 0 giờ ngày Sóc của ngày hôm đó.

Chẳng hạn, điểm Đông Chí rơi vào 0 giờ 23’ và điểm Sóc rơi vào 19 giờ 46’ (theo giờ Bắc Kinh) ngày 22 tháng 12 năm 1984 nên có thể coi tháng âm bắt đầu từ 0 giờ ngày 22 tháng 12 này chứa điểm Đông Chí ở trên. Trong tính toán cụ thể điều này có nghĩa là chúng ta làm tròn đến số nguyên ngày Julius.

Cách tính tháng âm lịch

Khoảng thời gian giữa hai điểm Sóc kế tiếp nhau chính là Tháng giao hội, trong Lịch âm Dương các nước Á Đông thì các Tháng giao hội (với độ dài trung bình 29,53 ngày) được xấp xỉ bằng chuỗi tháng 29 và 30 ngày và các tháng này gọi là các tháng âm.

Tháng âm 29 ngày được gọi là tháng thiếu, Tháng âm 30 ngày gọi là tháng đủ, độ dài tháng âm chính bằng số ngày giữa hai ngày Sóc kế tiếp nhau.

Nếu biết ngày Julius tương ứng với các ngày Sóc ta chỉ việc trừ đi hai ngày Julius sẽ biết độ dài ngày của tháng âm đó.

Cách tính năm âm lịch

Do độ dài 12 tháng âm trung bình chỉ bằng 354.3671 ngày, ngắn hơn khoảng 11 ngày so với năm Xuân Phân (trung bình là 365.2422 ngày) nên để cho phù hợp với thời tiết cứ sau hai năm, người ta lại chèn thêm tháng nhuận vào theo quy tắc được tính ở trên.

Như vậy, năm âm lịch bắt đầu từ Tết Nguyên Đán và kết thúc vào ngày trước Tết Nguyên Đán kế tiếp có 12 hoặc 13 tháng âm lịch.

Trong năm thường (12 tháng âm lịch) có 353, 354 hoặc 355 ngày, còn năm nhuận có 383, 384, 385 ngày.

Trong Lịch âm Dương các nước Á Đông, năm Xuân Phân được đánh dấu từ điểm Đông Chí này đến điểm Đông Chí tiếp theo chứa 24 khí và lịch 24 khí này tục được gọi là Lịch nhà nông.

Giải mã Ngũ hành tương sinh, tương khắc đầy đủ và chi tiết
Giải mã Ngũ hành tương sinh, tương khắc đầy đủ và chi tiết
Giải mã Ngũ hành tương sinh, tương khắc đầy đủ và chi tiết

Ngũ hành tương sinh, tương khắc là sự chuyển hóa qua lại giữa Trời và Đất để tạo nên sự sống của vạn vật. Hai yếu tố này không tồn tại độc lập với nhau, trong tương sinh luôn có mầm mống của tương khắc, ngược lại trong tương khắc luôn tồn tại tương sinh.

Cách tính tháng nhuận

cơ sở tính toán lịch việt nam

Cách xác định tháng nhuận trong năm

Độ dài tháng âm biến đổi trong khoảng thời gian 29.27 ngày đến 29.84 ngày. Giữa hai điểm Đông Chí liên tiếp nhau chỉ có thể có từ 12 hay 13 điểm Sóc, không thể ít hơn 12 và nhiều hơn 13 điểm.

Nếu giả dụ chỉ có 11 điểm Sóc, lúc này giữa hai thời điểm Đông Chí nhiều nhất có: 12 tháng âm x 29.84 ngày bé hơn 358 ngày, còn giả dụ có 14 điểm Sóc thì giữa hai Đông Chí ít nhất có: 13 tháng x 29.27 ngày lớn hơn 380 ngày. Điều này là không thể xảy ra vì các độ dài trên nhỏ hơn hoặc lớn hơn khoảng cách giữa hai thời điểm Đông Chí.

Tương tự như vậy, giữa các điểm Đông Chí của hai năm liên tiếp như của năm N-2 và năm N hay của năm N-1 và N+1 chỉ có thể chứa 24 hoặc 25 tháng âm nên nếu giữa hai Đông Chí (thí dụ của năm N-2 và năm N ) có tháng nhuận (13 điểm Sóc) thì giữa hai Đông Chí của năm liền kề như của năm N-2 và năm N-1 hay của năm N và năm N +1 sẽ chỉ có 12 điểm Sóc và không có tháng nhuận.

Nếu giữa hai Đông Chí có 13 điểm Sóc thì dứt khoát sẽ tồn tại 2 điểm Sóc kế tiếp nhau không chứa một trung khí nào vì một năm Xuân Phân luôn chỉ có 12 Trung khí.

Tóm tắt các bước tính tháng nhuận

Xác định các điểm Đông Chí trong năm N-1 và năm N (ký hiệu là Đ-1 và Đ)

Xác định các điểm Sóc giữa hai điểm Đông Chí trên ký hiệu là S(1), (2)…đến S(12) hoặc S(13), nếu có 13 điểm Sóc thì xác định các điểm có tháng nhuận trong năm.

Xác định các điểm Trung khí giữa Đ-1 và Đ không kể Đ-1 và Đ thì luôn có 11 Trung khí tất cả.

Nếu có tháng nhuận thì tháng có [S(k), S(k+1K] đầu tiên sau điểm Đ-1 không chứa Trung khí là tháng nhuận.

Các tháng âm được đánh số sao cho hai tháng chứa các điểm Đông Chí Đ-1 và Đ là các tháng mang số 11.

(Khi nói năm N có tháng nhuận ta cần hiểu câu này chỉ liên quan đến khoảng thời gian từ Đông Chí năm N-1 đến Đông Chí năm N mà không phải tính từ 1 tháng 1 đến 31 tháng 12 năm N vì điểm Đông Chí thường rơi vào khoảng ngày 21 (hay ngày 22) tháng 12 hàng năm.

Ví dụ cụ thể để minh họa

Tại sao lịch âm của Trung Quốc có tháng 10 nhuận vào năm 1984 trong khi lịch Việt Nam có 2 tháng nhuận vào năm 1985 và tết Nguyên đán ở cả hai nước gần nhau lại lệch nhau 1 tháng?

Lý giải:

Có hai điểm Trung khí khác nhau là Đông Chí năm 1984 và Xuân Phân vào năm 1985.
điểm Đông Chí năm 1984 xảy ra lúc 23 giờ 23’ giờ Việt Nam ngày 21 tháng 12, tức 0 giờ 23’ giờ Trung Quốc ngày 22 tháng 12 .

điểm Xuân Phân rơi vào 23 giờ 14’ giờ Việt Nam ngày 20 tháng 3 năm 1985 tức 0 giờ 14’ ngày 21 tháng 3 theo giờ Trung Quốc.

Theo giờ Việt Nam, giữa Đông Chí năm 1983 và năm 1984 (từ ngày 22/12/1983 đến 22/12/1984) chỉ có 12 điểm Sóc nên khoảng thời gian này lịch Việt Nam không có tháng nhuận.

Ngược lại, theo giờ Trung Quốc thì từ ngày 22/12/1983 đến ngày 22/12/1984 (khoảng cách giữa hai Đông Chí dài thêm một ngày) có tất cả 13 điểm Sóc (điểm Sóc cuối cùng rơi vào đúng vào ngày Đông Chí 22/12) và tháng âm từ ngày 23/11 đến ngày 22/12 không chứa Trung khí nào nên là tháng nhuận.

Mặt khác, theo giờ Việt Nam từ Đông Chí ngày 21/12/1984 đến Đông Chí ngày 22/12/1985 có 13 điểm Sóc và tháng âm bắt đầu từ ngày 21/3 đến ngày 19/4/1985 không chứa Trung khí nào nên tháng âm lịch này chính là tháng 2 nhuận (nhưng theo giờ của Trung Quốc thì tháng này lại chứa một Trung khí là điểm Xuân Phân).

Do sự khác nhau về tháng nhuận nên ngày mùng một Tết Ất Sửu ở Việt Nam rơi vào 21 tháng 1 (năm 1985), còn ở Trung Quốc là ngày 20/2/1985.

Như vậy, trong hai năm 1984, 1985, lịch Việt Nam và Trung Quốc khác nhau từ ngày 23/11/1984 đến ngày 19/4/1985 và giống nhau ở các khoảng thời gian còn lại về các điểm khí có 3 tiết không trùng nhau, ngoài tiết Đông Chí và Xuân Phân kể còn tiết Bạch lộ (năm 1985) cũng khác biệt nhau một ngày giữa Lịch 2 nước.

Với những thông tin từ về Cơ sở tính toán lịch Việt Nam, bạn có thể sắp xếp các đầu việc để tiến hành một cách khoa học, hiệu quả và thuận lợi nhất có thể. Tử Vi Số chúc bạn có một ngày tốt lành!

Tin liên quan

Hải Thư

Hải Thư

Chào các bạn, tôi là Hải Thư chuyên gia trong lĩnh vực xem bói tử vi, tác giả về những bài viết trong trên trang web Tử Vi Số. Mong những bài viết của tôi giúp ích và mang thêm nhiều kiến thức bổ ích cho các bạn.


Cùng Chuyên mục

Ngày Trái Đất là ngày gì? Chung tay bảo vệ môi trường xanh
Ngày Trái Đất là ngày gì? Chung tay bảo vệ môi trường xanh
Ngày Trái Đất là ngày gì? Chung tay bảo vệ môi trường xanh
Lịch âm dương

Ngày Trái Đất (Earth Day) là ngày được thành lập để nâng cao nhận thức và giá trị của môi trường tự nhiên, của Trái Đất với con người. Khái niệm Ngày Trái Đất lần đầu được đề xuất tại Mỹ vào năm 1970 và mãi đến năm 2009 mới được Liên Hợp Quốc công nhận đây là một ngày lễ Quốc tế.

Back to top